Thảo đợi đến khi bà Năm xuống chợ sáng.
Bà đi chợ mỗi ngày. Sáu giờ rưỡi đã thức. Bảy giờ đã ra khỏi cổng. Đi chợ xong về nấu cơm tám giờ rưỡi. Đều như đồng hồ. Ba mươi năm nay vậy. Tuấn kể từ hồi bố còn sống cũng vậy.
Thảo đứng cửa sổ nhìn bà đi xa. Lưng còng. Túi vải đeo vai. Dép tổ ong màu xanh đã phai. Bà mặc áo bà ba cũ. Quần đen. Không bao giờ mặc áo mới ra chợ. "Đi chợ mặc áo cũ cho nó mát," bà nói vậy. Nhưng Thảo biết bà tiếc áo mới.
Cửa đóng lại.
Thảo đi vào phòng bà Năm.
Phòng nhỏ. Giường sắt cũ. Tủ gỗ ba cánh sơn nâu. Bàn thờ ông nội để góc. Hương khói mờ mờ. Mùi hương trầm. Mùi thuốc cao dán tường. Mùi dầu gió trên bàn.
Thảo mở ngăn tủ dưới. Tìm sổ sách. Bà Năm giữ sổ chi tiêu từ năm tám hai. Tuấn từng nói mẹ anh ghi chép tỉ mỉ như kế toán. Thảo không tin lắm. Giờ thì tin.
Có ba quyển sổ. Bìa cứng. Màu xanh phai. Chữ viết tay trên bìa: "Sổ chi tiêu gia đình."
Quyển một: 1982-1990.
Quyển hai: 1991-2000.
Quyển ba: 2001-2010.
Thảo lấy quyển một.
Ngồi xuống giường.
Mở trang đầu.
Chữ viết nhỏ. Màu mực xanh. Nét chữ nghiêng nghiêng. Chữ đẹp. Thảo không ngờ bà viết đẹp vậy.
Trang đầu ghi: "Tháng 1 năm 1982."
Dưới đó là hai cột. "Thu" và "Chi."
Thảo đọc từng dòng.
Thu tháng 1/1982: lương nhà nước 180 đồng. Bán vải thừa 15 đồng. Cộng: 195 đồng.
Chi tháng 1/1982: gạo 80 đồng. Cá khô 20 đồng. Rau 10 đồng. Dầu hỏa 15 đồng. Tiền trường 4 đứa con 40 đồng. Vở 10 đồng. Thuốc cảm con tư 5 đồng. Cộng: 180 đồng.
Dư: 15 đồng.
Dòng ghi chú cuối trang: "Để dành mua quần áo Tết."
Thảo đọc tiếp.
Tháng 2. Tháng 3. Tháng 4.
Cứ vậy. Từng tháng. Từng năm. Ghi từng đồng. Thu bao nhiêu. Chi bao nhiêu. Dư bao nhiêu. Không bao giờ thừa quá hai mươi đồng.
Thảo lật nhanh đến năm 1985.
Đó là năm anh Hải viết thư.
Tháng 6/1985. Thu: lương 250 đồng. May vá thuê 30 đồng. Cộng: 280 đồng.
Chi: gạo 100 đồng. Thịt 30 đồng. Rau 15 đồng. Tiền trường 50 đồng. Vở 15 đồng. Dầu hỏa 20 đồng. Thuốc sốt con ba 10 đồng. Mượn chị Sáu 50 đồng mua vở cho con. Cộng: 290 đồng.
Thiếu: 10 đồng.
Dòng ghi chú: "Tháng sau trả chị."
Thảo nhìn dòng chữ "mượn chị Sáu" mà như có gì nghẹn trong cổ.
Năm tám lăm. Bà ba mươi lăm tuổi. Bốn đứa con. Lương hai trăm năm. Phải mượn năm mươi đồng mua vở.
Mà năm đó anh Hải cầu hôn.
Anh Hải có nhà riêng. Có việc làm ổn định. Hứa sẽ lo cho bốn đứa con. Sống với anh Hải chắc hổng phải mượn tiền mua vở.
Nhưng bà từ chối.
Thảo lật sang tháng 7. Ghi: "Trả chị Sáu 50 đồng."
Rồi tháng 8. Tháng 9. Tháng 10. Cứ vậy. Chi tiêu eo hẹp. Từng đồng. Như dòng nước nhỏ giọt. Như nồi cơm cháy ở đáy không đủ ăn.
Thảo gấp sổ lại.
Mở quyển hai.
1991-2000.
Lật đến năm 1992.
Đó là năm chú Toàn viết thư.
Tháng 3/1992. Thu: lương 350 nghìn. Ca đêm xưởng may 200 nghìn. Cộng: 550 nghìn.
Thảo nhìn dòng "ca đêm" mà nhớ lại lời cô Út: "Chị Năm làm ca đêm. Ngủ ba bốn tiếng rồi dậy đi làm ca sáng."
Năm chín hai. Bà bốn mươi hai tuổi. Làm hai ca. Một ngày ngủ ba tiếng.
Chi tháng 3/1992: gạo 150 nghìn. Thịt cá 80 nghìn. Rau 20 nghìn. Tiền trường con ba (lớp 9) 50 nghìn. Sách vở 40 nghìn. Tiền điện 30 nghìn. Sửa mái nhà dột 100 nghìn. Cộng: 470 nghìn.
Dư: 80 nghìn.
Ghi chú: "Để dành thi đại học con hai."
Thảo nhìn dòng chữ "để dành thi đại học" mà cảm giác như có ai đấm vào ngực.
Năm đó bà làm ca đêm. Ngủ ba tiếng. Để dành tám mươi nghìn. Cho con thi đại học.
Mà năm đó chú Toàn cầu hôn.
Chú Toàn ly dị. Không con. Có nhà. Sống với chú chắc hổng phải làm ca đêm. Chắc hổng phải ngủ ba tiếng một ngày.
Nhưng bà từ chối.
Vì chú uống rượu.
Thảo nhớ lại câu cô Út: "Chồng chị Năm chết vì tai nạn xe máy sau khi uống say."
Bà sợ rượu. Sợ tai nạn. Sợ chết. Sợ bốn đứa con mồ côi.
Nên bà chọn ca đêm. Chọn ngủ ba tiếng. Chọn sống một mình.
Thảo lật tiếp.
Tháng 4. Tháng 5. Tháng 6. Năm 1993. 1994. 1995.
Thu nhập tăng dần. Năm chín ba: 600 nghìn. Năm chín tư: 700 nghìn. Năm chín lăm: 800 nghìn.
Nhưng chi tiêu vẫn eo hẹp.
Không bao giờ mua thịt tươi. Toàn thịt vụn. Cá khô. Rau héo giảm giá.
Không bao giờ mua quần áo mới. Ghi: "May lại áo cũ." "Vá quần con tư."
Không bao giờ đi ăn hàng. Không xem phim. Không du lịch.
Chỉ ghi: "Tiền trường." "Sách vở." "Ăn học thêm con hai." "Khám bệnh con ba." "Sữa cho con tư."
Cứ vậy. Năm này qua năm khác. Như dòng sông chảy chậm. Như nước rút mùa khô. Từng giọt. Từng giọt.
Thảo lật đến năm 2001.
Đó là năm bác Khiêm viết thư.
Tháng 9/2001. Thu: lương 1,2 triệu. May vá thuê 300 nghìn. Cộng: 1,5 triệu.
Chi: gạo 200 nghìn. Thịt cá 150 nghìn. Tiền điện nước 80 nghìn. Tiền cưới con hai 2 triệu.
Ghi chú: "Mượn chị Sáu 1 triệu. Tháng sau trả."
Thảo nhìn dòng "tiền cưới con hai" mà nghẹn lại.
Năm đó chị hai Tuấn — chị Liên — lấy chồng. Bà mượn một triệu để lo cưới xin. Mà năm đó bà năm mươi mốt tuổi. Đáng lẽ có người chăm sóc. Có người lo.
Nhưng bà không chọn.
Bác Khiêm viết thư tháng 10 năm 2001. Thư dài. Chân thành. Hứa sẽ yêu thương các con.
Nhưng bà không trả lời.
Bà ghi trong sổ tháng 11: "Trả chị Sáu 1 triệu."
Rồi tiếp tục ghi: "Gạo 200 nghìn. Thịt vụn 80 nghìn. Rau 30 nghìn."
Cứ vậy.
Thảo gấp sổ lại. Đặt xuống giường. Hai tay đặt lên mặt.
Không khóc. Nhưng nghẹn.
Ba mươi năm. Từ năm tám hai đến năm hai nghìn mười. Ba mươi năm ghi chép từng đồng. Ba mươi năm sống eo hẹp. Ba mươi năm mượn tiền. Trả tiền. Tính toán. Lo lắng.
Ba mươi năm có ba cơ hội thoát ra.
Nhưng bà không chọn.
Không phải bà không biết tái hôn sẽ dễ thở. Bà biết chứ. Bà biết rõ. Nhìn sổ chi tiêu là biết. Năm tám lăm mượn năm mươi đồng mua vở. Năm chín hai làm ca đêm ngủ ba tiếng. Năm hai nghìn không một mượn một triệu lo cưới con.
Bà biết tái hôn sẽ đỡ hơn.
Nhưng bà chọn cái khó.
Chọn sống một mình. Chọn gánh vác. Chọn mượn tiền. Chọn ca đêm. Chọn từng đồng từng đồng tính toán.
Chọn để bốn đứa con hổng phải sống dưới mái nhà có người lạ. Hổng phải gọi ai là dì. Hổng phải sợ bị đánh. Hổng phải lo bị ngược đãi.
Thảo nhớ lại câu bà cô Sáu: "Con tôi hổng có cha rồi, đừng để chúng nó thêm chữ dì ghẻ nữa."
Đó là lời bà Năm nói với chị.
Năm tám lăm.
Ba mươi chín năm trước.
Và bà giữ lời đó suốt ba mươi năm.
Thảo mở quyển ba. Năm hai nghìn không một đến hai nghìn mười. Chín năm cuối. Chín năm bà đã ngoài năm mươi. Đáng lẽ được nghỉ ngơi. Được chăm sóc.
Nhưng bà vẫn ghi: "Gạo. Thịt. Rau. Tiền điện." Vẫn tính từng nghìn. Vẫn mua rau héo. Vẫn may vá quần áo cũ.
Tháng 5/2005. Ghi: "Cho con ba mượn 2 triệu mở tiệm sửa xe."
Tháng 6/2007. Ghi: "Cho con tư mượn 5 triệu cưới xin."
Không ghi "cho." Ghi "mượn." Nhưng Thảo biết các con không bao giờ trả. Bà cũng không đòi.
Tháng 12/2009. Ghi: "Mua vàng 1 chỉ 3 triệu để dành."
Dòng ghi chú: "Để dành lo ma chay đừng phiền các con."
Thảo đọc dòng đó mà như có ai siết cổ.
Bà mua vàng. Không phải để dành an nhàn tuổi già. Mà để dành lo ma chay. Để đừng phiền các con.
Sáu mươi tuổi rồi mà vẫn lo. Vẫn tính. Vẫn sợ phiền.
Thảo gấp cả ba quyển sổ lại. Xếp ngay ngắn. Đặt vào tủ. Đóng cửa tủ lại.
Đứng dậy.
Đi ra phòng khách.
Nhìn đồng hồ. Tám giờ rưỡi. Bà Năm sắp về.
Thảo vào bếp. Đun nước. Pha trà.
Nghe tiếng cổng mở.
Bà Năm về. Túi vải đầy rau. Thịt vụn gói trong túi nilon. Bà đặt xuống bàn. Cởi dép. Rửa chân. Rửa tay. Vào bếp.
Thảo đứng đó. Cầm ly trà. Đưa cho bà.
"Mẹ uống nước đi."
Bà Năm nhìn Thảo. Mắt hơi ngạc nhiên. Thảo không bao giờ pha trà cho bà.
Bà nhận ly. Uống một ngụm. Đặt xuống.
"Cơm tối nấu gì?"
"Để con nấu. Mẹ nghỉ."
Bà lắc đầu:
"Mẹ quen rồi. Nấu nhanh."
Bà mở túi rau. Rửa rau. Thái rau. Tay bà nhanh. Động tác thuần thục. Như máy móc. Như đã làm ba mươi năm.
Thảo đứng nhìn.
Lưng bà còng. Tóc bạc nửa đầu. Tay bà gầy. Da nhăn. Gân guốc. Bàn tay từng mượn năm mươi đồng mua vở. Bàn tay từng làm ca đêm. Bàn tay từng vá quần áo cho bốn đứa con.
Bàn tay từng từ chối ba người đàn ông tử tế.
Để giữ bốn đứa con an toàn.
Thảo nuốt nước bọt. Cảm giác như có cục gì to trong cổ. Hổng nuốt xuống được. Hổng nói ra được.
Bà Năm nấu canh rau. Kho thịt vụn. Xào rau muống. Ba món. Đơn giản. Như mọi bữa.
Thảo đứng nhìn.
Và lần đầu tiên sau mười năm làm con dâu. Thảo thấy bà Năm không phải người đàn bà chỉ biết hy sinh mù quáng.
Bà là người đã chọn.
Chọn cái khó. Nhưng chọn một cách sáng suốt.
Chọn vì bà biết rõ hậu quả của việc chọn sai. Bà chứng kiến hàng xóm tái hôn. Chứng kiến con bị đánh gãy tay. Chứng kiến chồng chết vì rượu.
Bà chọn vì bà tính toán. Bà đọc được rủi ro. Bà không tin vào lời hứa suông. Bà chỉ tin vào thứ bà kiểm soát được: hai bàn tay mình. Sổ chi tiêu. Từng đồng từng đồng tự mình kiếm.
Bà chọn khổ. Nhưng chọn an toàn cho con.
Thảo nhớ lại mấy năm trước. Năm hai nghìn mười lăm. Thảo bỏ việc giáo viên. Định mở tiệm quần áo online. Bà Năm can:
"Con đừng bỏ việc. Việc nhà nước ổn định."
Thảo không nghe. Bỏ việc. Mở tiệm. Thua lỗ mười lăm triệu. Phải đi xin việc lại.
Lúc đó Thảo nghĩ bà lỗi thời. Không hiểu kinh doanh thời mới.
Giờ Thảo hiểu. Bà không phải không hiểu. Bà hiểu rõ. Bà đã sống ba mươi năm tính từng đồng. Bà biết rủi ro là gì. Bà biết mất việc ổn định để đánh cược vào thứ không chắc chắn là liều lĩnh.
Bà can ngăn vì bà không muốn con khổ.
Giống như bà từ chối ba người đàn ông. Không phải vì bà không muốn hạnh phúc. Mà vì bà không muốn con khổ hơn bà khổ.
Bà Năm bưng cơm ra bàn. Gọi:
"Ăn cơm."
Thảo ngồi xuống. Bưng bát cơm. Gắp rau. Nhai chậm.
Bà Năm ăn nhanh. Như mọi khi. Ăn xong rửa bát. Lau bàn. Quét bếp.
Thảo nhìn bà. Trong lòng nặng trĩu.
Muốn nói gì đó. Nhưng hổng biết nói sao.
Muốn ôm bà. Nhưng hai mẹ con dâu không quen ôm nhau.
Muốn xin lỗi. Xin lỗi vì mười năm coi thường. Mười năm phàn nàn. Mười năm không hiểu.
Nhưng nói "xin lỗi" thì giải thích sao. Xin lỗi về điều gì. Bà sẽ hỏi. Rồi Thảo phải kể về hộp thiếc. Về ba lá thư. Về chuyến đi Gò Vấp. Về xưởng may. Về sổ sách.
Thảo không muốn kể.
Đó là bí mật của bà. Bà giữ ba mươi chín năm. Bà không kể ai. Thảo không nên là người lật mở.
Nên Thảo chỉ ngồi đó. Im lặng. Nhìn bà Năm lau bếp.
Và quyết định từ giờ sẽ khác.
Sẽ không phàn nàn nữa. Sẽ lắng nghe hơn. Sẽ tôn trọng hơn.
Sẽ nhớ rằng người đàn bà này từng sống ba mươi năm eo hẹp. Từng chọn cái khó để con được an toàn.
Và bốn đứa con bà nuôi. Giờ đều trưởng thành. Đều ổn định. Anh cả kỹ sư. Chị hai chủ tiệm. Tuấn văn phòng. Em tư thợ sửa xe.
Không ai phải sống dưới tay mẹ kế. Không ai bị đánh. Không ai bị ngược đãi.
Bà Năm làm được.
Một mình. Ba mươi năm.
Thảo đứng dậy. Bưng bát vào bồn rửa. Rửa bát cùng bà.
Bà Năm nhìn Thảo:
"Mẹ rửa được. Con về phòng nghỉ."
"Để con giúp."
Hai mẹ con dâu đứng cạnh nhau. Rửa bát. Không nói gì.
Nước chảy. Bọt xà phòng. Mùi nước rửa chén. Âm thanh chén bát va nhau.
Thảo liếc nhìn bà. Bà đang rửa nồi. Tay chà mạnh. Động tác quen thuộc.
Và Thảo nghĩ. Mình may mắn thật. Được là con dâu của người đàn bà này. Người đàn bà mạnh mẽ hơn Thảo tưởng. Mạnh mẽ như thép. Nhưng không cứng nhắc. Mềm mại như nước. Chảy quanh vật cản. Chảy nuôi con.
Thảo gấp sổ lại. Nhìn bà Năm đang ngủ trưa. Tay vẫn cầm chiếc kim may. Kim để vá áo cháu nội. Bà ngủ mà tay vẫn cầm. Như cả đời bà làm việc. Ngủ mà tay vẫn làm.
Thảo đứng nhìn. Lòng nặng trĩu. Như tờ giấy ăn sáng thấm đầy nước mắt. Nặng. Rách. Nhưng vẫn giữ.
💬 Bình luận (…)